Thứ Sáu, 25 tháng 12, 2009

Gái Ngoan Dạy Chồng


Ngày xưa có một người đàn ông giàu, vợ chết sớm, chỉ có độc một người con trai . -Đứa con vốn người xấu nết, đần độn, lại là tay chơi bời lêu lổng không chịu học hành hay làm ăn gì cả.

Thấy con không lo nối nghiệp nhà, người nhà giàu rất buồn phiền, biết rằng của cải của mình sẽ có một ngày đội nón ra đi mà thôị Bởi vậy, ông bèn tính chuyện kiếm cho con một người vợ khôn ngoan đảm đang, để may ra nó sẽ ngăn chặn tay chồng, bảo vệ một phần nào cơ nghiệp.

Nghĩ vậy, ông cất công đi khắp nơi tìm kiếm, nhưng đi đã nhiều nơi mà vẫn chưa thấy một người nào vừa ý.

Một hôm, đến một vùng kia, nhân mỏi chân, ông nghỉ lại một gốc đa bên đường. Ông bỗng thấy ở một cây táo gần đấy có một bọn trẻ đang tranh nhau trẩy ăn . Một chốc sau, một cô gái tuổi chừng đôi tám, cũng đến trẩy táọ Ông mới lân la lại gần hỏi xin ăn .

Lúc này, táo chín đã bị bọn người trước trẩy hết, chỉ còn những quả xanh, nhưng cô gái cũng cố chọn lấy những quả ương ương đưa cho khách.

Thấy cô gái tốt bụng, ông ta nghĩ : "Sởi lởi, trời gởi của cho, quăn co, trời gò của lạị Chỉ có người nào tốt bụng với mọi người mới xứng đáng được hưởng giàu có sung sướng".

Bởi vậy, ông mới tìm đến nhà cô gái, giả làm một người lỡ độ đường, xin nghỉ trọ một tốị Và rồi ông được gia đình cô gái ân cần tiếp đãị

Để thử xem cô gái có khôn ngoan không, ông lân la làm quen với nàng. Khi biết cô sắp đi chợ, ông đưa ra một quan tiền nhờ mua hộ cho mình "một nắm gió, một bó lửa". Cô gái chẳng nói chẳng rằng, mua về cho ông một cái quạt và một con dao đánh lửạ Thấy thế, ông thầm khen ngợi, nhưng vẫn định thử thêm cho biết.

Qua ngày hôm sau, ông dậy sớm, giở tay nải đưa cho cô mấy bát gạo nếp, nhờ nàng thổi giúp cho mình một nồi vừa cơm vừa bánh để ăn và đem đi ăn đường. Cô gái không từ chối, vội lấy gạo ra vo . Trước khi cho vào nồi, nàng bớt lại một ít giã làm bột vắt bánh rồi hấp luôn vào cơm . Khi nàng bưng ra, ông già lấy làm vừa ý, cho là con người đó đủ cả đức hạnh, khôn ngoan, đảm đang ít có. Bèn quyết định trở về sửa soạn lễ hỏi cho con trai làm vợ.

Đứa con trai của ông từ ngày có vợ lại càng lêu lổng ; hắn thường bỏ nhà đi đánh đàn, đánh đúm với bọn vô lại, làm cho ông hết sức buồn. Và điều làm ông lo lắng nhất là hắn thỉnh thoảng lại trộm tiền của ông, khi dăm bảy quan, khi một vài vác, tung vào cuộc đỏ đen . Mặc dù ông đánh đập, mặc dù vợ hắn khuyên lơn, nhưng hắn chứng nào vẫn tật ấỵ Dần dần ông buồn phiền thành bệnh. Một hôm, biết mình sắp chết, ông gọi con dâu đến bên giường dặn nhỏ :

- Này cha đã gần đất xa trờị Chồng con là một thằng "Phá gia chi tử", cơ nghiệp này chỉ còn một sớm một chiều mà thôi . Cha rất thương con xấu số. Từ lâu cha làm ăn dành dụm, có để được một hũ vàng chôn ở sau vườn. Vậy cha cho riêng con hũ vàng đó, đừng cho chồng con biết. Sau này chồng con có thật sự ăn năn hẵng giúp cho nó làm lại cuộc đờị

Đứa con trai ông sau khi người cha qua đời, lại càng chơi bời mặc sức. Vợ hết khuyên lơn đến cầu khẩn, hắn chẳng những đã không nghe lại còn phũ phàng với vợ. Mỗi lần thua bạc, hai người lại càng xô xát. Nhiều lần vì vợ cản trở, hắn đánh đập vợ không tiếc tay và làm nhục nàng trước mặt mọi ngườị Một hôm để khỏi vướng, hắn viết giấy cho vợ đi lấy chồng khác rồi đuổi nàng ra khỏi cửạ

Từ đó, hắn phỉ chí tung hoành không một ai dám cản. Quả như lời đoán của bố hắn, mấy chục mẫu ruộng đều lần lượt "nướng" vào sòng bạc. Hết ruộng vườn tới nhà ở, chẳng bao lâu tất cả cơ nghiệp mấy đời lưu truyền lại đều sạch sành sanh . Cuối cùng không một đồng dính túi, không một nghề cầm tay, hắn đành bỏ làng mạc quê quán, đi lang thang khắp đầu đường xó chợ, ngửa tay xin ăn qua ngàỵ

Còn về người đàn bà sau khi bị chồng đuổi, mới đổi tên, tìm đến trấn thành mở một ngôi hàng nước. Sau ít lâu, kiếm được một số nhỏ, nàng bắt đầu buôn hàng tấm. Số vốn của nàng ngày một lớn dần. Một hôm, gặp hai em bé gái mồ côi đi ăn xin, nàng thương tình đưa về nuôi làm con, coi như ruột thịt. Cuộc đời dần dần nở hoa trước mắt nàng. Trong một dịp đi tìm kiếm củi, hai con nàng nhặt được một khúc gỗ mục, về chẻ ra thấy có mấy thoi vàng. Có vốn lớn lại có tài kinh doanh, nên chẳng bao lâu, nàng trở nên giàu có, nổi tiếng trong trấn. Tiền bạc tuôn về như nước. Tuy sống sung sướng nhưng nàng vẫn ở một thân một mình. Thấy nàng giàu có, nhiều kẻ ngấp nghé muốn "gá nghĩa Châu Trần", nhưng người đàn bà ấy nhất thiết từ chối mọi lời đường mật. Mặc dù người chồng bạc bẽo và mặc dầu mười lăm năm xa cách, nàng vẫn không quên được tình xưa nghĩa cũ. Đã nhiều lần nàng thuê người lần đi các chợ búa phố phường dò hỏi nhưng tin tức của chồng càng hỏi, càng bặt tăm .

Năm ấy, sau mấy tháng hạn, lúa khoai chết mòn trên những cánh đồng nứt nẻ. Giá gạo cứ lên vùn vụt. Ngoài đường, người đi xin ăn kéo từng đoàn. Người đàn bà lúc này đã là bà chủ hiệụ Bà xin phép quan trên cho mình đem tiền gạo ra phát chẩn cho kẻ khó. Làm như thế, nàng còn mong một khi thấy yết thị dán khắp thôn xóm thì chồng mình tất sẽ lần mò về, nếu hắn còn sống. Y như thế thật, ngày bắt đầu phát, nàng đã thấy bóng dáng của chồng ngồi ở hàng cuối đội quân lĩnh chẩn. Đúng là hắn. Từ ngày bắt đầu cầm bị gậy đến nay, hắn vẫn chưa có cách gì để sống khá hơn và đỡ hèn hạ hơn trước. Bây giờ nghe nói có phát chẩn, hắn vội mò đến đây và ngồi đầu hàng về phía tả. Thế nhưng khi phát, những người giúp việc cho bà chủ hiệu lại được lệnh phát từ phía hữu lạị Khi sắp sửa đến lượt hắn thì bọn họ tự nhiên nói lớn :

-- Hôm nay đã hết gạo, mời bà con về đợi đến ngày mai !

Hắn buồn bực trở ra . Qua ngày sau, hắn cố tìm đến thật sớm, ngồi vào đầu hàng bên hữụ Nhưng hắn không ngờ, những người phát chẩn hôm nay lại bắt đầu phát từ phía bên kia . Lúc sắp phát đến hắn thì chúng lại giơ thúng không lên :

-- Hôm nay thế là lại hết gạọ Bà con hãy đợi đến mai .

Hắn thở than cho số đen đủi, lần trở ra về. Qua hôm sau, lại mò đến thật sớm. Lần này hắn len vào ngồi đúng chính giữa đội quân lĩnh chẩn. Trong bụng hắn nghĩ lần nầy thì không để mất phần được. Nhưng đến giờ phát, hắn không ngờ người nhà của bà chủ hiệu hôm nay lại phát hai đầu phát lại và cuối cùng người không được gì cả, vẫn lại là hắn. Ba lần hỏng cả ba, hắn rất ngao ngán, bèn đánh liều tìm đến dinh cơ bà chủ để xin ăn . Gặp hai đứa con gái nuôi của vợ, hắn ngả nón kêu van hết lờị Ở trong nhà ; người đàn bà nhìn ra biết là chồng, đã do mưu của mình mà đến đây, bèn sai người hầu ra hỏi, xem hắn có biết làm việc gì không để thuê mượn. Nghe hỏi thế, hắn vội trả lời :

-- Xin ông bẩm với bà lớn rủ lòng thương, cho tôi được ở hầu bà, rửa bát, quét nhà, mọi việc tôi đều xin hết sức. Chỉ cho tôi ăn ba miếng là đủ rồi !

Người nhà trở ra cho hắn biết bà chủ nhận lờị Từ đó, hắn chăm chỉ làm lụng, cố làm vừa lòng chủ. Nhưng chung quy hắn vẫn không biết chủ chính là vợ cũ của mình. Về phần người vợ cũng không hề để lộ một tí cho hắn biết, chỉ dặn hai con và người nhà đối đãi tử tế mà thôi . Sau một thời gian, thấy hắn chịu khó làm ăn, người đàn bà mừng lắm. Một hôm nàng cho gọi hắn lên nhà hỏi xem có biết chữ nghĩa gì không ! Hắn đáp :

- Tôi lúc nhỏ được đi học có biết ít nhiềụ

- Vậy từ mai trở đi, anh không hầu hạ nữa, cho anh ở gian nhà khách dạy đám trẻ học tôi sẽ trả mỗi năm ba mươi quan .

Nghe nói, hắn tưởng không có gì sung sướng hơn thế nữa, cảm thấy lòng nhân đức của bà chủ đối với mình bằng trời bằng biển, vội nhận lời ngay . Từ đó, hắn đóng vai thầy đồ cố sức làm cho chủ tin cậỵ Nhưng người vợ vẫn thử mãi không thôi .

Một lần, gặp ngày tết, bà chủ sai lấy tiền ra cho kẻ hầu người hạ. Nàng nói :

- Ta cho mỗi người năm quan, hãy mang đi đánh bạc cho vui, nếu hết sẽ cho thêm . Thầy đồ ta cũng được năm quan tiền. Nhưng trong khi mọi người đem tiền nướng vào xóc đĩa, bài mười, thì trái lại, hắn mang nguyên vẹn số tiền đó về gửi cho chủ. Bà chủ hỏi :

- Tại sao anh không thích đánh bạc ? Hắn trả lời :

- Bẩm bà, tôi ngày xưa, vì cờ bạc mà đến nông nỗi nàỵ Cho nên bây giờ buộc chỉ cổ tay thề rằng không đụng đến nó.

Thế rồi luôn miệng, hắn kể hết cho chủ nghe, từ cuộc đời cũ có ruộng nhiều, có vợ ngoan như thế nào, rồi bán ruộng đuổi vợ ra sao, cho đến lang thang đói rách, và ngày nay đã ăn năn hối lỗi v.v... Bà chủ hỏi :

- Anh còn thương vợ nữa không ? Hắn rầu rĩ :

- Tôi đã nhiều lần dò tìm mà không thấỵ

- Nghe anh nói tôi rất thương tình. Vậy tôi cho anh năm quan để anh đi tìm vợ. Nếu hết tiền mà vẫn chưa thấy, anh cứ về đây, tôi sẽ cho thêm mà tìm cho rạ

Hắn mừng rỡ vâng vâng, dạ dạ, mang tiền đi tìm. Nhưng sau ba tháng trở về với bộ mặt thiểu não, hắn cho chủ biết không hề thấy tung tích đâu cả, chắc là vợ hắn đã chết.

Từ đấy, vợ thấy chồng chí tình, lại có lòng tu tỉnh, nên rất mừng. Nhưng nàng vẫn chưa ra mặt vội, chỉ an ủi hắn hãy ở lại đây, may ra sẽ có ngày hội ngộ.

Một hôm, nhân ngày giỗ cha chồng, bà chủ nhờ thầy đồ chép bài văn tế. Hắn ta ngạc nhiên và bội phần mừng rỡ khi thấy bài vị của tổ tiên nhà chủ chính là bài vị tổ tiên mình. Lập tức, hai vợ chồng ôm nhau khóc lóc. Rồi sau khi cúng xong, họ mời làng xóm và người nhà ngồi lại kể rõ sự tình. Ai nấy đều cho là một cuộc tái ngộ hiếm có.

Về sau, hai vợ chồng dựng vợ gả chồng cho hai con nuôi, giao cửa hiệu lại cho chúng cai quản. Sau đấy, họ dắt nhau trở về quê hương xưa, chuộc lại vườn tược nhà cửa cũ. Và sau khi đã sống yên ổn ở quê nhà, vợ mới sai đào hũ vàng bố chồng cho mình ngày xưa lên . Nàng nói :

- Có vàng chưa chắc đã có hạnh phúc. Cho nên trong những cơn túng thiếu nhất, tôi vẫn không cần đến nó.

Nói đoạn, đem số vàng ấy cúng cho đền chùa để bố thí cho người nghèọ Từ đấy, hai vợ chồng sống với nhau đến đầu bạc. Câu tục ngữ : "Làm trai rửa bát quét nhà. Vợ gọi thì 'Dạ bẩm bà tôi đây !'" là do chuyện này mà ra.

Trích từ http://VietMedia.com

Thứ Tư, 9 tháng 12, 2009

"Ăn Ốc Nói Mò"

Các cụ nhà mình vẫn bảo rằng:„Miếng trầu là đầu câu chuyện“. Đúng thế! Muốn tán em, cứ mời em đi thưởng thức bún riêu ốc, cua nướng hay hủ tiếu Mỹ Tho ở Bamboo Grill. Còn muốn ngồi cà cưa, đưa nhau ra Hè Phố. Nếu em là gái „Bắc kì di cư“, dẫn em đi ăn ... Phờ 54 cho được việc. Cuối tháng, hầu bao có xẹp, ít nhất cùng em ghé Bánh mì Chợ Cũ, kiếm cái gặm đỡ. Trước khi dzìa, dìu em qua bên Thạch Cali nữa, là ... chắc ăn một trăm phần dầu!

Không phải chỉ có dân An Nam mình coi trọng miếng ăn đâu nhé; dân Đức, mắt xanh tóc vàng mũi lõ, cũng kháo nhau: „Liebe geht durch den Magen!“, nghĩa là „Tình yêu đến qua bao tử!“. Ấy! Cái miếng trầu quan trọng là thế, nên trong ca dao, tục ngữ của mình „ăn“ chiếm một vị trí rất đáng kể:

Ăn tiêu, nhớ tỏi bùi ngùi
Ngồi bên đám hẹ, nhớ mùi rau răm
Hỡi người quân từ trăm năm,
quay tơ có nhớ mối tằm hay không?

Tuy thế, có ăn, cũng ăn có chừng, có mực, chớ cái kiểu:

Ăn rồi nằm ngửa nằm nghiêng
Có ai (muốn) lấy tớ thì khiêng tớ về

dám có ngày bội thực, nằm đưa cái bụng ễng ương lên trời, hóa ra … hỏng chuyện!

Người mình còn bảo: “Nhà sạch thì mát, bát sạch ngon cơm”, nghĩa là ăn thường đi đôi với ở.

Chỉ ăn thôi, chưa đủ! Rủng rỉnh tí tiền bạc, sau khi chắc dạ rồi, phải mặc cái “sơ mi” màu cà chua mới chín, hay mẫu chim cò xanh xanh, trắng trắng, gọi là … cho đời biết tay!

Tột đỉnh của ăn là … nhậu, nhưng nhậu vào, lời ra, nói vung vít …

Ăn no, thường buồn ngủ, buồn ngủ phải lăn kềnh ra nằm…

Nhiều thành ngữ đã được cấu tạo bằng cách tách đôi các động từ kép này ra (ăn ở, ăn mặc, ăn nói, ăn nằm…), cũng như một trạng từ kép nào đó, rồi ghép lại với nhau:

Ăn gian, nói dối (trạng từ: gian dối)
Ăn dơ, ở bẩn (dơ bẩn)
Ăn dầm, nằm dề (dầm dề)
Ăn sung, mặc sướng (sung sướng)

Có khi hai trạng từ khác nhau được ghép vào hai phần của động từ kép đã được tách ra:

Ăn no, nằm khèo (no, khèo)
Ăn quịt, nói điêu (quịt, điêu)

Các trạng từ này có thể cùng nghĩa như:

Ăn chắc, mặc bền (chắc, bền)
Ăn to, nói lớn (to, lớn)

Cũng có trường hợp các trạng từ phản nghĩa với nhau, càng làm câu thành ngữ thêm rõ nghĩa:

Ăn xuôi, nói ngược (xuôi, ngược)
Ăn thừa, nói thiếu (thừa, thiếu)

Dĩ nhiên nhìều động từ khác (với các động từ kép kể trên), cũng như cả danh từ cũng được sử dụng (làm túc từ cho động từ):

Ăn tươi, nuốt sống (động từ: ăn, nuốt)
Ăn lông, ở lỗ (danh từ: lông, lỗ)

Trong câu:

Ăn đợi, nằm chờ

đợi, chờ đều là động từ, nhưng trong trường hợp này đã được dùng như trạng từ, phụ nghĩa cho hai động từ ăn và nằm.




Bún ốc riêu cua


Trong các động từ kép: ăn ở, ăn mặc, ăn nói … ăn chỉ là trợ từ, nghĩa chính là động từ phía sau. Cho nên, khi cô con gái than với bồ:

- Anh dụ em đem đôi bông tai đi cầm, lấy tiền cho anh đánh bài. Bây giờ thua hết, em biết ăn nói sao với thầy bu đây ?!

Ở đây, cô gái chỉ lo lắng, tìm cách nói dối đấng sinh thành thôi, không hề được ăn cái giải rút gì cả!

Như thế trong các thành ngữ trên, vế sau là chính.

Khi một người bị chê trách là “ăn thật, làm dối”, vì người đó làm việc cẩu thả, không đến nơi, đến chốn. Còn người đó có được “ăn thật” hay không, chờ hạ hồi phân giải!

Nói chung các câu thành ngữ nếu không có vần như: “Ăn theo, nói leo”, ít nhầt cũng có điệu, nghe xuôi tai. Nhất là ca dao rất có vần, có điệu, thường theo thể thơ lục bát:

Ăn cơm sao đặng mà mời
Nước mắt lênh láng rã rời hạt cơm
Mình ơi đừng đặng cá quên nơm
Đôi ta gá nghĩa danh thơm để đời

Hay là:

Ăn thì ăn trước ngồi trên
Đến chừng đánh giặc thì rên hừ hừ

Cũng vì vậy trong nhiều câu ca dao, câu đầu chỉ là câu gieo vần, không có ý nghĩa gì cả:

Ăn chanh, ngồi gốc cây chanh
Khuyên cội, khuyên cành, khuyên nhánh, khuyên bông
Khuyên cho đó vợ, đây chồng
Đó bế con gái, đây bồng con trai

Hay là:

Ăn sung, ngồi gốc cây sung
Lấy anh thì lấy, nằm chung không nằm

Tương tự:

Ăn cam, nằm gốc cây cam
Lấy anh thì lấy, về Nam (Cali) không về

Trong cả ba trường hợp. sự việc “ngồi gốc cây chanh, cây sung” hay “nằm gốc cây cam” không dính dáng gì tới ý chính trong những câu sau.

Nếu tổng hợp về cấu trúc của thành ngữ: Tách động từ kép ăn nói, ghép với các từ kép khác như: mò ốc, măng mọc, cò bay. Người ta đã nói :

Ăn măng, nói mọc
Ăn cò, nói bay
Ăn ốc, nói mò

Nói mọc là bày đặt, nói thêm, nói bớt. Nói bay là nói khoác, nói lác. Nhưng từ này có vẻ gượng gạo, ít người dùng. Do đó có người đổi ra là : “Ăn cò, nói leo“. Nếu xét về cấu trúc thành ngữ, câu này không “chỉnh“, vì làm gì có “cò leo“. Họa chăng dùng “cò“ để chỉ một đấng ông chồng nào đó, mới có vụ cò … leo thôi !!!

Như đã phân tích ở trên, vế sau của câu thành ngữ mới là chính, ăn măng, ăn ốc, ăn cò … chỉ là gia vị, mắm muối, cho thêm vần, thêm điệu mà thôi. Gần giống như “ngồi gốc chanh, nằm gốc cam” vậy!

Có người dùng “thuyết nhân quả“ để giải thích “ăn ốc, nói mò“, rằng : Ăn ốc thường uống rượu, ruợu vào, nhời ra, ăn nói lăng nhăng, ba hoa chích chòe … Như thế phải nói : “ăn ốc, nói nhảm “, chứ không nói mò ! Người khác bảo : “Muốn ăn ốc phải đi mò : Mò ốc! “. Điều này đúng, nhưng giữa chuyện “mò“ và “nói“ cách nhau xa lắc, xa lơ, không bắt quàng được. Cho nên cách giải thích về cấu trúc, vần điệu là đúng hơn cả.

Tóm lại : Muốn ăn ốc, ra siêu thị, bỏ ra vài tì, xách về cả bịch, tha hồ nhậu lai rai, chẳng phải đi mò, đi mẫm gì sốt. Và đã ăn ốc rồi, không ắt phải nói … mò. Cứ vững bụng thưởng thức các món : Bún ốc riêu cua, ốc nhồi hấp lá gừng, ốc bung chuối xanh đậu phụ … Khoái khẩu vô cùng !

Thạch Bích biên soạn



Ốc xào chuối xanh, nước mắm gừng

Thạch Bích biên soạn

caodao.com